Hình ảnh

Audio

Giới thiệu chung về chủ đề "Văn hóa các dân tộc ở Đà Nẵng và Quảng Nam

Mã hiện vật: No505

Danh mục: Văn hóa các dân tộc ở Đà Nẵng và Quảng Nam

Nội dung

Đồng bào các tộc người thiểu số ở Quảng Nam - Đà Nẵng là cư dân bản địa có nguồn gốc lâu đời. Cho đến nay, các tộc người vẫn còn bảo tồn nhiều yếu tố văn hóa truyền thống. Đời sống kinh tế chủ yếu là làm nương, phát rẫy, họ trồng lúa, các loại ngũ cốc..., săn bắn, hái lượm có vai trò quan trọng trong kinh tế gia đình. Chăn nuôi chưa phát triển. Nghề dệt, nghề đan mây tre có nhiều sản phẩm đạt trình độ tinh xảo. Dụng cụ gia đình bằng tre, nứa, lồ ô. Những chiếc gùi, ta lét là phương tiện vận chuyển phổ biến. Trang phục cổ truyền nổi bật là chiếc khố với tấm choàng của đàn ông, chiếc áo ngắn với chiếc váy của phụ nữ.

Mỗi tộc người có mỗi kiểu nhà sàn khác nhau. Nhà của người Cơ tu có mái khum ở hai đầu hồi giống như chiếc mai rùa. Những ngôi nhà Ưng của người Xơ đăng, Gié - Triêng có mái vút cao, dáng mạnh mẽ như một lưỡi rìu dựng giữa trời. Tùy theo địa hình khu đất, làng thường bố cục hình vòng cung, hình vuông, ở giữa là nhà Gươl, nhà Ưng là nơi sinh hoạt cộng đồng và tiếp khách. Nhạc cụ mỗi tộc người thường sử dụng là bộ cồng chiêng và các nhạc cụ bằng tre, nứa như: đàn môi, khèn, sáo, trống... Người Cơ Tu nổi tiếng với điệu múa Tung Tung - Da Dá, người Co lưu truyền điệu múa dân ca Xru, A giới, người Xơ đăng hát đối đáp trai gái.

Tổ chức xã hội cổ truyền là làng, tùy theo ngôn ngữ các tộc người có tên gọi khác nhau: Người Cơ tu gọi là Vêêl, Bươl; người Xơ đăng, Co, Gié - Triêng gọi là Plây. Họ có ý thức rất cao về dòng tộc, làng gốc, tinh thần tập thể, không gian sinh tồn, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi đối với làng của mình; ý thức của từng cá nhân, từng gia đình thường lệ thuộc vào ý chí chung của làng, đại diện là người chủ làng và những người già làng.