Hình ảnh

Audio

Gốm sứ Việt Nam thế kỷ XI - XVIII

Mã hiện vật: No106

Danh mục: Sưu tập cổ vật

Nội dung

Nghề làm gốm là một trong những nghề có truyền thống lâu đời nhất tại Việt Nam. Trải qua năm tháng, gốm sứ không chỉ còn là những đồ dùng thủ công phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người: chén, nồi, ấm, đĩa… mà còn hơn thế, gốm sứ đã trở thành một nét hồn dân tộc, trở thành một vẻ đẹp riêng, mộ niềm tự hào riêng nói lên cốt cách, tâm hồn của cả một đất nước.
Gốm sứ Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII trải qua các giai đoạn: gốm sứ thời Lý, gốm sứ thời Trần, gốm sứ thời Lê sơ - Mạc - Lê Trịnh và gốm sứ thời Nguyễn. Trong đó, ở mỗi giai đoạn, gốm sứ có những đặc điểm riêng. Cụ thể:
Đồ gốm thời Lý (1010 - 1224) là dòng gốm tráng men, có: gốm men trắng ngà, men nâu và men ngọc màu xanh. Gốm men ngọc thời Lý rất tinh tế, xương đất được lọc kỹ, dày và chắc. Lớp men gốm dày phủ kín xương gốm, mịn, bóng, chạm vào có cảm giác mát tay. Xương gốm và lớp men bám vào nhau rất chắc.Men trong suốt, sâu thẳm,mịn,lấp lánh ánh sáng. Gốm men ngọc xanh có điểm thêm các sắc vàng chanh, vàng xám nhạt, vàng rơm. Gốm men trắng Lý có độ trắng mịn và óng mượt và phần nhiều về chất lượng đã đạt tới trình độ sứ. Sự khác nhau giữa gốm trắng Lý và gốm trắng Tống (Trung Quốc) chủ yếu được nhìn nhận qua sắc độ đậm nhạt của màu men hay xương gốm và kỹ thuật chế tác. Đây cũng là đặc điểm khó phân biệt giữa gốm trắng Lý (Việt Nam) với gốm trắng Tống (Trung Quốc).
Gốm sứ thời Trần (1225 - 1339) được tìm thấy khá nhiều trong các hố khai quật khảo cổ học và thường là tìm thấy cùng với những đồ gốm trang trí kiến trúc cùng thời. Gốm thời kỳ này có rất nhiều loại, gồm các dòng gốm: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam. Do phát triển kế thừa trực tiếp từ gốm thời Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống với gốm thời Lý cả về hình dáng, màu men và hoa văn trang trí. Cũng chính vì đặc thù này nên việc phân tách giữa gốm thời Lý và gốm thời Trần là điều không phải dễ dàng. Tuy nhiên, sự phân biệt có thể được xác định qua kỹ thuật tạo chân đế của đồ gốm. Nhìn chung, kỹ thuật tạo chân đế của gốm thời Trần thường không được làm kỹ như gốm thời Lý. Về hoa văn trang trí cũng vậy, mặc dù có cách bố cục hoa văn như thời Lý, nhưng về chi tiết gốm thời Trần không tinh xảo và cầu kỳ như gốm thời Lý. Đặc biệt đối với gốm men độc sắc, bên cạnh loại gốm trang trí hoa văn khắc chìm, thời Trần còn phổ biến loại gốm có hoa văn in khuôn trong. Dường như đây là loại hoa văn rất phát triển ở thời Trần và nó có sự phong phú, đa dạng hơn nhiều về hình mẫu so với gốm thời Lý. 
Gốm sứ Việt Nam từ thời Lê sơ - Mạc - Lê Trịnh (từ thế kỷ XV - thế kỷ XVIII) đạt đến trình độ kỹ thuật cao với nhiều dòng men và hoa văn trang trí độc đáo, đặc biệt có hai dòng gốm nổi tiếng thời kỳ này là gốm Bát Tràng (Hà Nội) và gốm Chu Đậu (Hải Dương).
Chu Đậu là xã nhỏ ở phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Đây là trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp, xuất hiện từ cuối thời nhà Trần và đến thời Hậu Lê thì bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Chu Đậu chuyên sản xuất đồ gốm sứ cao cấp, đa dạng về các loại hình sản phẩm như chén, bát, hộp sứ, lọ, bình, tước... được trang trí bằng nhiều loại men màu, phổ biến là men trắng trong, hoa lam, men ngọc. Một số sản phẩm tráng tới 2 màu men. Hoa văn chủ đạo là sen, cúc dưới hình dạng phong phú; hình động vật là chim, cá, côn trùng và người.
Làng nghề nổi tiếng này hình thành từ thời Lý, Trần và thường cung cấp cống phẩm cho nhà Minh. Trước đây, người làng vốn ở làng Bồ Bát hay Bạch Bát (Thanh Hóa) di cư đến lập nghiệp, đặt tên làng mới là Bạch Thổ phường (phường đất trắng), sau đổi là Bá Tràng phường, cuối cùng mới lấy tên Bát Tràng phường (nơi làm bát). Sản phẩm của Bát Tràng gồm bát, đĩa, chậu, ấm, bình vôi, bình hoa, gạch, ngói... Men trang trí có phong cách đặc trưng riêng; hình dáng sản phẩm dày dặn chắc khỏe. Sản phẩm gạch Bát Tràng cũng rất nổi tiếng, dùng lát nhiều sân chùa và đường làng.
Gốm sứ Việt Nam thời Nguyễn tiếp nối những thành tựu về kỹ thuật và hoa văn trang trí của các giai đoạn trước. Giai đoạn này, bên cạnh dòng gốm hoa lam được sản xuất tại các lò gốm trong nước còn có sự xuất hiện của gốm sứ ký kiểu. Để phục vụ cho nhu cầu thờ cúng, trang trí cung điện, chùa chiền chúa Nguyễn đã gửi kiểu mẫu qua đặt lò gốm tại Giang Tây - Trung Quốc. Thuật ngữ đồ sứ ký kiểu được dùng để chỉ những đồ sứ do người Việt Nam, gồm cả vua, quan và thường dân, đặt làm tại các lò gốm sứ Trung Hoa trong khoảng thời gian từ nửa sau thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, với những yêu cầu riêng về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí, thơ văn minh hoạ và hiệu đề.
Phần trưng bày sưu tập cổ vật gốm sứ Việt Nam của Bảo tàng Đà Nẵng giới thiệu một số hiện vật gốm sứ có niên đại từ khoảng thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII. Trong đó có các hiện vật gốm men ngọc thời Trần; gốm men trắng, men da lươn thời Lê.